ĐĂNG NHẬP

Phòng đọc

Lượt Truy Cập

Xây dựng mô hình sản phẩm dịch vụ Thư viện - Thông tin tại Trung tâm Thông tin – Thư viện, Trường Đại học Hà Tĩnh
(31/10/2018)

                                                    Đinh Văn Nam

                                                                      Giám đốc Trung tâm Thông tin - Thư viện

 

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thư viện là nền tảng phục vụ việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại trường đại học, đặc biệt thư viện đại học (TVĐH) chỉ có thể thực hiện được chức năng của mình thông qua Mô hình hệ thống sản phẩm và dịch vụ Thông tin thư viện (SP&DVTTTV) cung cấp đến người dùng tin (NDT). Hệ thống SP&DVTTTV là cầu nối giữa thư viện với NDT, là thước đo phản ánh hiệu quả hoạt động và trình độ phát triển của Trung tâm thư viện, được tạo lập trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu tin của NDT và việc ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin và truyền thông. Hiện nay, các điều kiện, khả năng và yêu cầu đối với việc khai thác, sử dụng thông tin của NDT đã có những thay đổi rất rõ rệt, do đó các TVĐH và Mô hình hệ thống SP&DVTTTV được tạo lập cũng cần phải có những thay đổi tương xứng. TVĐH là một bộ phận hữu cơ của trường đại học, một trong những điều kiện quan trọng đáp ứng yêu cầu đào tạo theo phương thức tín chỉ, đổi mới phương pháp dạy - học, một tiêu chí để đánh giá kiểm định chất lượng và xếp hạng trường đại học. Vì vậy, đổi mới giáo dục đại học, đòi hỏi các TVĐH cũng phải đổi mới nhằm thoả mãn tốt nhất các điều kiện đảm bảo để nâng cao chất lượng đào tạo. Mọi hoạt động của TVĐH đều phải hướng đến việc đáp ứng cao nhất nhu cầu thông tin khoa học cung cấp cho người dạy, người học, phục vụ hoạt động nghiên cứu, đào tạo tại trường đại học, sư nghiệp đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập, đã đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới cũng như tạo cơ hội, điều kiện cho các TVĐH phát triển. Trong bài viết này tác giả trình bày một mô hình SP&DVTTTV đã và đang xây dựng và ứng dụng triển khai tại Trung tâm Thông tin – Thư viện (TTTT-TV)   Trường Đại học Hà Tĩnh, bước đầu phát huy hiệu quả góp phần quan trọng nâng cao chất lượng đào tạo và NCKH ở Trường Đại học Hà Tĩnh.

 

  1. Các sản phẩm Thông tin – Thư viện ở Trường Đại học Hà Tĩnh

Sản phẩm thông tin – thư viện là kết quả của quá trình xử lý thông tin do cá nhân/tập thể thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu của NDT. Quá trình lao động để tạo ra sản phẩm là quá trình xử lý thông tin bao gồm: phân loại, biên mục, định từ khóa, tóm tắt…cũng như quá trình phân tích, tổng hợp thông tin [6].

 

  1.  Thư mục thông báo tài liệu mới

Xuất phát từ nội dung vốn tài liệu, đặc điểm NDT và nhu cầu tin (NCT) tại thư viện (TV) trường Đại học Hà Tĩnh đã biên soạn thư mục thông báo tài liệu mới. Đây là loại ấn phẩm thư mục được TTTT - TV cung cấp cho bạn đọc thường xuyên nhất. Thư mục thông báo tài liệu mới giới thiệu cho bạn đọc những tài liệu mới nhất được TTTT-TV bổ sung. Các tài liệu trong thư mục được sắp xếp theo nội dung/môn loại, trong mỗi môn loại sẽ sắp xếp theo chữ cái tên nhan đề hoặc tên tác giả. Thư mục thông báo tài liệu sách mới được xuất bản vào thời gian không cố định cũng như số lượng tài liệu trong thư mục cũng không cố định, có thể nhiều hoặc ít tùy theo số lượng tài liệu mà TTTT-TV bổ sung và xử lý được trong thời gian đó.

 

1.2. Cơ sở dữ liệu

- Cơ sở dữ liệu (CSDL) thư mục chủ yếu là để phản ánh nguồn tài liệu cứng hiện có trong TV. Chúng hiện đang tồn tại dưới dạng các OPAC, tức là ở chế độ truy cập mở, cho phép khai thác miễn phí trên môi trường Internet. CSDL Thư mục này được quản lý bằng phần mềm Libol 6.0 quản lý 12.500 tên sách, 75.000 cuốn phục vụ cho đào tạo 54 mã ngành của nhà trường. Bạn đọc không cần đến TV, thông qua phần mềm này, ban đọc có thể tra cứu được toàn bộ tài liệu có trong TV và biết được tình trang của tài liệu để có thể mượn tài liệu dể dàng tiết kiệm thời gian, nhanh chóng, thuận tiện.

 

- Để đáp ứng nhu cầu cung cấp nội dung thông tin, TV đã tập trung xây dựng các CSDL toàn văn về học liệu, CSDL toàn văn tài liệu nội sinh được quản lý bằng phần mềm mã nguồn mỏ DSPAC. Với phần mền này tất cả các tài nguyên nội sinh số của nhà trường bao gồm luận văn, luận án, đề tài NCKH, kỷ yếu hội thảo, tạp chí khoa học, bài giảng, giáo trình, khóa luận tốt nghiệp được quản lý bằng phần mềm DSPACE thuận lới cho việc tra cứu, tải về và đọc trực tuyến của bạn đọc.

 

- Mua quyền truy cập các CSDL toàn văn của nước ngoài là sản phẩm do các doanh nghiệp lớn trên thế giới cung cấp như Thomson Reuters, Elsevier, Proquest Central của Cục thông tin khoa học và công nghệ Quốc gia với hơn 25 CSDL đa ngành, trên 19.000 tạp chí trong đó có hơn 13.000 tạp chí toàn văn phục vụ giảng dạy, học tập và NCKH cho cán bộ, giảng viên và sinh viên.

 

- Ngoài ra, TTTT - TV đã sử dụng tài nguyên giáo dục mở của các TV số trên thế giới và của Việt Nam qua chuyên mục “Học liệu mở” trên cổng thông tin: http://lic.htu.edu.vn. Tài nguyên giáo dục mở trên thế giới: TV số Questia, TV số ĐH Waikato, TV số University Libraries của ĐH Levada, Reno, Luận văn truy cập mở - Open Access Theses and Dissertations, Tạp chí khoa học của Viện Clute; Tài nguyên giáo dục mở của Việt Nam: Tài liệu số - Book online của Bộ GD&ĐT, Mạng Giáo dục Edunet, TV học liệu mở Việt Nam (VOER), FETP OpenCourseWare - Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, Tài liệu mở Đại học Quốc gia Hà Nội,... người dùng tin sẽ được tải tài liệu miễn phí của các TV số mọi lúc, mọi nơi một cách nhanh chóng và dễ dàng. Hơn nữa, nguồn tài nguyên giáo dục mở của các TV số luôn được cập nhật mới liên tục nội dung đa dạng, phong phú phục vụ cho tất cả các lĩnh vực và mã ngành đào tạo của Trường Đại học Hà Tĩnh.

 

1.3. Cổng thông tin thư viện

Là nơi giao tiếp giữa cán bộ TV và NDT, cổng thông tin TV được cơ cấu tổ chức như website TV, trong đó cung cấp mọi thông tin có liên quan đến cơ cấu tổ chức, hoạt động của TV, các nguồn lực thông tin và các SP&DVTTTV dành cho NDT. Công thông tin TV của trung tâm là phương tiện quan trọng để thực hiện nhiều hoạt động tác nghiệp và nghiệp vụ khác như: hướng dẫn sử dụng TV, tra cứu tài liệu, tổ chức diễn đàn trao đổi với bạn đọc, thông báo cho bạn đọc các thông tin của trung tâm, quảng bá sản phẩm - dịch vụ, liên kết với các TV, đơn vị trong và ngoài mước, truy cập tới các nguồn tin điện tử và các nguồn tin khác,... Đặc biệt là tổ chức mục lục truy cập công cộng trực tuyến (OPAC), giúp NDT truy cập thông tin dể dàng, thuận tiện.

 

2. Các loại hình dịch vụ Thông tin – Thư viện ở Trường Đại học Hà Tĩnh

Dịch vụ thông tin - thư viện bao gồm những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin của người sử dụng các cơ quan thông tin - thư viện nói chung [1].

 

2.1. Dịch vụ đào tạo người dùng tin

Nhận thức về tầm quan trọng của năng lực thông tin (NLTT) và yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục trong bối cảnh hội nhập Quốc tế giáo dục đại học Việt Nam nói chung và Trường Đại học Hà Tĩnh nói riêng, Trung Tâm TV của Trường đã từng bước xây dựng và phát triển chương trình đào tạo NLTT hướng đến tất cả các đối tượng độc giả của trường, đặc biệt là sinh viên. Mục tiêu của chương trình nhằm trang bị cho các đối tượng độc giả những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho việc tìm kiếm, đánh giá và sử dụng hiệu quả nguồn học liệu sẵn có bên trong và bên ngoài TTTT-TV để phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu độc lập. Chương trình đào tạo, NLTT được triển khai dưới hình thức lớp học tập trung tại phòng máy của nhà trường. Các lớp đào tạo được tổ chức miển phí theo nhu cầu đăng ký tự nguyện của sinh viên, sinh viên có thể đăng ký học cả ba lớp hoặc số lượng ít hơn tùy chọn; các lớp này sẽ được tổ chức thường xuyên trong các tháng 3,5,7,9,11 hàng năm tùy theo nhu cầu đăng ký của sinh viên.

 

Đối với sinh viên khóa mới TV đã hướng dẫn kỹ năng sử dụng và khai thác TV điện tử, TV số cho từng khóa học là nội dung bắt buộc trong tuần sinh hoạt công dân đầu năm. Trên trang website của TV đều có hướng dẫn sử dụng các tiện ích của TV, cũng như các ý kiến đóng góp cho TV rất thuận tiện cho người NDT.

 

2.2. Dịch vụ đọc tại chổ

Dịch vụ đọc tại chổ là hình thức phục vụ mang tính truyền thống của TTTT-TV. Đây là dịch vụ cơ bản cung cấp tài liệu gốc nhằm giúp NDT thõa mãn yêu cầu thông tin của mình. Đọc tại chổ là hình thức cung cấp tài liệu mà bạn đọc chỉ được sử dụng tài liệu tại phòng đọc. Dịch vụ đọc tại chổ là một nhu cầu không thể thiếu được đối với NDT của TTTT-TV Trường Đại học Hà Tĩnh. Tại đây, NDT có thể được đáp ứng nhu cầu tra cứu tài liệu, tìm các thông tin dữ kiện, số liệu, các thuật ngữ, bài báo, tạp chí và các vật mang tin khác có trong kho.

 

2.3. Dich vụ cho mượn sách về nhà

Dịch vụ cho mượn sách về nhà là hình thức cho phép NDT mang tài liệu về nhà sử dụng trong một thời gian nhất định. Dịch vụ này giữ một vai trò quan trọng trong hoạt động của trung tâm. Đây là dịch vụ thu hút được nhiều NDT, tiết kiệm được thời gian cho bạn đọc. Sử dụng công nghệ mã vạch nên việc mượn, trả tài liệu diễn ra thuận lợi. Tại quầy phục vụ đã trang bị các máy tính, đầu đọc mã vạch, phiếu mượn tài liệu. Tất cả tài liệu có trong TTTT-TV đều được xử lý nghiệp vụ và dán mã vạch và tích hơp vào CSDL của phần mềm quản lý Libol6.0. Chính vì vậy, các bạn đọc tìm được tài liệu cần mượn, cán bộ trực tại quầy chỉ thực hiện các thao tác nghiệp vụ qua phần mềm Libol6.0 rất thuận tiện, nhanh chóng và chính xác.

 

2.4. Dịch vụ tra cứu tìm tin

Đây là một trong các dịch vụ thông tin TV phổ biến nhất tại các TVĐH. Việc sử dụng dịch vụ này được thực hiện thông qua các máy tính trạm đặt tại TTTT-TV để truy cập các CSDL thư mục quản lý tài liệu của TV, các nguồn tin trực tuyến và website. TTTT-TV Trường Đại học Hà Tĩnh sử dụng phần mềm Libol 6.0 của Công ty Tinh Vân trong công tác quản lý và biên mục tài liêu. TTTT-TV còn triển khai nhiều hoạt động khác nhau để hỗ trợ NDT nâng cao hiệu quả sử dụng dịch vụ tra cứu thông tin. Tại TTTT-TV Trường Đại học Hà Tĩnh, dịch vụ này được tổ chức khá hoàn chỉnh, tuân thủ các nguyên tắc về tính thân thiện, tính thuận tiện dể tìm đối với người sử dụng. OPAC thiết kế giao diện thân nhiện màu sắc ưa thìn, cho phép tra cứu trên tất cả các thông số cơ bản của tài liệu như: nhan đề, tác giả, năm xuất bản, nhà xuất bản, chủ đề, phân loại... kể cả ISBN, mã vạch tài liệu. Khả năng mở rộng tìm kiếm thông qua các toán tử AND, OR, NOT và có thể tìm kiếm từ mức độ cơ bản, chi tiết và nâng cao. OPAC còn giúp người dùng tin kiểm soát tình hình mượn tài liệu của mình thông qua tài khoản mà TTTT-TV đã cung cấp cho NDT, NDT có thể nắm được mình đang mượn những tài liệu nào, khi nào đến hạn trả tài liệu và có tài liệu nào quá hạn không... Phân hệ này được tích hợp trên mạng Internet để tạo ra môi trường giao tiếp giúp bạn đọc tra cứu và sử dụng thông tin do TTTT-TV cung cấp ở mọi lúc, mọi nơi. Ngược lại TTTT-TV cũng có thể kiểm tra và thống kê được những lĩnh vực mà NDT quan tâm cũng như thu nhận các ý kiến phản hội của NDT.

 

2.5. Dịch vụ internet

Đại đa số NDT Trướng ĐHHT đều sử dụng dịch vụ này ở những mức độ khác nhau để phục vụ việc học tập, nghiên cứu, giải trí. Trên các website, cổng thông tin của TV đều cung cấp một chức năng trao đổi thông tin qua thư điện tử để NDT trực tiếp liên hệ với bộ phận dịch vụ tiếp nhận thông tin của TV nhà trường. Email được TV khai thác như một phương tiện trao đổi thông tin giữa các tổ chức, cá nhân và sử dụng lồng ghép trong nhiều dịch vụ khác nhau. TV Trường Đại học Hà Tĩnh gửi các đề cương, bài giảng qua email cho người học, được NDT đánh giá cao. Ngoài ra, TV Trường còn sử dụng giao thức Z39.50 làm giải pháp công nghệ triển khai dịch vụ truyền tệp.

 

2.6. Dich vụ tìm tin theo yêu cầu

Đây là dịch vụ khá đốc đáo của TTTT-TV Trường Đại học Hà Tĩnh. Dịch vụ này xuất xuất phát từ ý tưởng trong trường đại học, giảng viên và sinh viên rất cần những nguồn thông tin mới phục vụ cho học tập, giảng dạy và nghiên cứu của họ. Nhưng không phải ai đến TV cũng biết cách tìm tin, mặt khác việc tìm kiếm tốn rất nhiều thời gian nhiều khi kết quả không như mong muốn. Tại sao TV không thay đổi cách thức phục vụ để có thể trở thành những nhà chuyên nghiệp trong việc cung cấp thông tin. Hình thành dịch vụ tìm tin theo yêu cầu sẽ giúp cho TV trở nên hửu ích và góp phần nâng cao uy tín và vai trò của mình trong trường đại học, mục đích của dịch vụ này là sẵn sàng đáp ứng NCT đặc thù, chuyên sâu của NDT. Trên cơ sở chúng tôi có một đội ngũ cán bộ thư  viện có trình độ về năng lực thông tin cao được phân công phụ trách tìm tin cho năm nhóm ngành đào tạo cơ bản của nhà trường đó là: King tế-Quản trị khinh doanh, sư phạm, Kỹ thuật-Công nghệ, Ngoại ngữ, Lý luận Chính trị, khoa học Nông nghiệp. Dịch vụ này trước mắt phục vụ miễn phí khi cho cán bộ, giảng viên và sinh viên làm đề tài NCKH luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ có nhu cầu tìm tin về một đề tài cụ thể nào đó thì gửi yêu cầu đến hộp thư của TTTT-TV. Sau khi nhận được nhu cầu tin của NDT cán bộ TV sẽ phân loại và chuyển đến cán bộ phụ trách tìm tin theo chủ đề đã được phân công, tiền hành tìm tin gửi cho người dùng tin có yêu cầu. Thời gian chậm nhất là 7 ngày kể từ khi nhận được NCT của NDT. Do cán bộ TV có NLTT và hoạt động chuyên nghiệp nên chất lượng thông tin tìm được có giá trị được NDT đáng giá cao loại hình dịch vụ này, góp phần đắc lực vào nâng cao chất lượng NCKH và đào tạo của nhà trường.

 

3. Mộ hình sản phẩm dịch vụ Thông tin – Thư viện tại Trường Đại học Hà Tĩnh

Để triển khai giảng dạy, học tập theo chương trình đào tạo tiếp cận CDIO Trường Đại học Hà Tĩnh đã xây dựng một mô hình SP&DVTTTV đáp ứng yêu cầu thực tiển theo hình thức đào tạo tiên tiến này. TV trường được tích hợp trong tòa nhà đa năng 15 tầng được đầu tư 150 tỷ đồng, từ tầng 1 đến tầng 5 của tòa nhà được ưu tiên cho TV với tổng diện tích 6.000 m2. Để triển khai giảng dạy, học tập theo chương trình đào tạo tiếp cận CDIO đòi hỏi TV của trường phải tổ chức theo một mô hình phục vụ mới vứa đảm bảo kế thừa TV truyền thống vừa kết hợp được các thành tựu của công nghệ thông tin và truyền thông, cũng như thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Xây dựng mộ hình TV trở thành một không gian giáo dục, tương tự như TV và lớp học trong đó có các không gian và hạ tầng thiết bị phục vụ việc đọc, nghiên cứu, tự học, làm việc nhóm, sáng tạo, gặp gỡ, hay đơn thuần chỉ là thư giãn, Mô hình này là sự kết hợp giữa TV với công nghệ thông tin và các dịch vụ hỗ trợ học tập nhằm cung cấp những dịch vụ tốt nhất đáp ứng được tối đa các nhu cầu của NDT kể cả dịch vụ như ăn nhẹ, điểm tâm, giải khát, cafe. Đây là một không gian học tập năng động với kiến trúc, nội thất, trang thiết bị công nghệ và cách thức tổ chức quản lí luôn hướng đến NDT [3].

 

Áp dụng mô hình này, người dùng TV có thể phát huy tối đa những không gian chung cho phép tự tra cứu, học, đọc tài liệu hoặc nghiên cứu, thảo luận về các vấn đề quan tâm, hoặc đơn giản chỉ là nghỉ ngơi, thư giãn. Mô hình cho phép người dùng chủ động tiếp cận tài liệu và sử dụng những trang thiết bị hiện đại mà không cần sự can thiệp của thủ thư. Như vậy không gian TV sẽ phát huy tối đa tính chủ động của người dùng trong việc tiếp cận tài liệu, tự học, từ đó đem lại cho họ cảm giác thoải mái, tiện nghi nhất, cùng với hiệu quả học tập, nghiên cứu tốt nhất [4]. Mô hình tổ chức TV này vừa manh tính cộng đồng có tính tương tác cao vừa cá biệt hóa được nhu cầu riêng biệt phong phú của mỗi cá nhân  đến TV. Không gian học tập, giáo dục này vừa là giảng đường thứ hai, người thầy thứ hai, vừa là nhà của NDT. Mộ hình không gian học tập chung nay là môi trường rèn luyện và phát huy năng lực độc lập  trong việc khám phá và tư duy sáng tạo của sinh viên. Mộ hình không gian học tập chung nay mở ra một môi trường tri thức rộng lớn, phong phú và đa dạng để sinh viên thoả sức mở rộng tầm nhìn và ước mơ của mình. Ở nơi đó,  bài giảng của thầy chỉ còn là những "cọc tiêu" để sinh viên định hướng, để sinh viên xác định mục tiêu của công cuộc khám phá. Việc lựa chọn, việc đồng hoá những kiến thức tuỳ thuộc hoàn toàn vào ý muốn của sinh viên. Mộ hình không gian học tập chung nay trở thành "thao trường" cần thiết để sinh viên từng bước tập dượt trên con đường lập nghiệp, có năng lực và trên con đường chinh phục đỉnh cao trí tuệ sau này. Mô hình không gian học tập chung Trường Đại học Hà Tĩnh Xây dựng bao gồm những phòng, khu vực chức năng sau: Không gian chung, quầy thông tin, phòng đọc chuyên ngành, kho mượn, trung tâm đa phương tiện, phòng đào tạo năng lực thông tin, Phòng đọc chuyên gia, Phòng tự học, khu vực đọc giải trí, Phòng học nhóm, Căng tin (café + đồ ăn nhẹ), khu in ấn, photocopy, khu trưng bày giới thiệu sách mới, khu ấn phẩm xuất bản của Trường, khu hướng dẫn học tập, khu hành chính TV[5].

 

Các phòng, khu vực chức năng nêu trên được bố trí hợp lý từ tầng một đến tầng năm với diện tích 6000 m2 của tòa nhà tích hợp đa năng 15 tầng. Xây dựng Mô hình TV trở thành một “không gian học tập chung” này sẽ là một giải pháp đột phá trong việc nâng cao chất lượng NCKH, giáo dục và đào tạo của Trường Đại học Hà Tĩnh.

 

4. Kết luận

Việc xây dựng mô hình không gian học tập ở các TV đại học là một xu hướng tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu NDT và giúp các TV tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các trường đại học hoàn thành sứ mệnh của mình. Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học, các TV cũng phải thay đổi để khẳng định vai trò vị trí của mình là một bộ phận không thể thiếu được và quan trọng của trường đại học, để khẳng định và tiếp tục cạnh tranh và phát triển bền vững. Dù khái niệm không gian học tập không còn là một khái niệm mới ở các TV tiên tiến trên thế giới, song nó vẫn đang trong quá trình được cải tiến liên tục. Các TV ở Việt Nam có điều kiện học hỏi và rút kinh nghiệm từ các TV ở các nước khác để tối ưu hoá mô hình TV của mình. Với phương châm lấy NDT làm trung tâm, phục vụ tối đa nhu cầu giảng dạy và học tập và nghiên cứu của cán bộ, giảng viên và sinh viên Trường Đại học Hà Tĩnh, không gian học tập thực sự cần có ở TV trong trường đại học. Trường Đại học Hà Tĩnh triển khai xây dựng mô hình SP&DVTTTV căn cứ vào nguồn lực thực tiễn của mình như đã trình bày ở trên chắc chắn sẽ là một giải pháp đột phá trong việc nâng cao chất lượng, đào tạo, NCKH của Trường Đại học Hà Tĩnh.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Dương Thị Vân (2008), Hình thành dịch vụ thông tin – thư viện “sẵn sàng đáp ứng” trong trường đại học, Tạp chí thư viện Việt Nam, (số 3), tr.16-19

2. Đặng Thị Hoa (1999), “Sản phẩm thông tin – thư viện với việc học tập, nghiên cứu của sinh viên”, Tạp chí nghiên cứu giáo dục, (số 7), tr.28.

3. Nguyễn Thị Hạnh (2008), Dịch vụ của các thư viện chuyên ngành trên địa bàn Hà Nội: Hiện trạng và vấn đề, Tạp chí Thông tin và Tư liệu, (số 2), tr.10-14

4. Nguyễn Hữu Hùng (2008), Một số vấn đề về chính sách phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Việt Nam, Tạp chí Thông tin và Tư liệu (số 2), tr.1-6

5. Nguyễn Minh Hiệp, “Xu hướng xây dựng không gian học tập chung”, Bản tin thư viện – Công nghệ thông tin, tháng 11/2011

6. Trần Mạnh Tuấn (1998), Sản phẩm và dịch vụ thông tin, thư viện: Giáo trình, Trung tâm Thông tin Tư liệu Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Hà Nội.

Copyright © 2010 by Trung tâm thông tin thư viên – Trường Đại học Hà Tĩnh. All rights reserved
Địa chỉ: số 447, đường 26/3, phường Đại Nài, TP Hà Tĩnh, Việt Nam. Điện thoại: 0393.885305. Email:thongtinthuvien@htu.edu.vn